Danh mục
Trang chủ >> Kiến thức Y học >> Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh
5 (100%) 1 vote

Kháng sinh là những hợp chất hóa học – không kể nguồn gốc – có tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyển hoá thiết yếu của vi sinh vật. Với liều điều trị, kháng sinh có thể kìm hãm hoặc tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh.

top-benh-truyen-nhiem-dang-so-den-muc-bac-si-cung-chon-hinh-13

Chỉ dùng kháng sinh khi bị nhiễm khuẩn:

  • Phải chắc chắn có nhiễm khuẩn mới dùng kháng sinh.
  • Cần phân biệt nhiễm vi khuẩn với nhiễm siêu vi vì kháng sinh không có hiệu quả đối với virus. Để xác định nhiễm khuẩn cần dựa vào kết quả kháng sinh đồ.
  • Các xét nghiệm thường cho kết quả tin cậy nhưng không phải bao giờ cũng có điều kiện để làm. Trường hợp không làm được kháng sinh đồ có thể dựa vào kết quả thăm khám lâm sàng.
  • Sốt là biểu hiện hầu như luôn có trong nhiễm khuẩn, tuy nhiên sốt chưa chắc đã có nhiễm khuẩn.
  • Vì vậy cần phối hợp các dấu hiệu lâm sàng khác để có kết quả tin cậy hơn.
  • Trường hợp nhiễm siêu vi có bội nhiễm vẫn có chỉ định dùng kháng sinh.

Chọn đúng kháng sinh:

  • Hạn chế dùng kháng sinh phổ rộng hoặc phối hợp nhiều kháng sinh.
  • Trước khi điều trị cần xác định đúng tác nhân gây bệnh để chọn một kháng sinh tốt nhất.
  • Lựa chọn kháng sinh dựa vào các cơ sở sau:
  • Phổ hoạt tính:

Sử dụng đúng liều lượng:

  • Dùng liều thấp không đủ nồng độ thuốc trong máu để đảm bảo hiệu lực. Dùng liều cao có nguy cơ xảy ra ngộ độc.
  • Tính liều theo cân nặng, tuổi, diện tích da. Với những thuốc có cửa sổ điều trị hẹp nên áp dụng theo cách tính diện tích da.
  • Cách tính phổ biến nhất là theo trọng lượng cơ thể.
  • Dùng liều tấn công ngay từ đầu, không tăng, không giảm liều. Dùng liên tục, không ngắt quãng, để đảm bảo nồng độ thuốc trong máu luôn ở mức có hiệu lực kháng khuẩn.

Dùng đúng thời gian quy định:

  • Nguyên tắc chung là dùng đến khi sạch vi trùng.
  • Ơ người bình thường, thời gian cần thiết để kháng sinh phát huy tác dụng và có đáp ứng trên lâm sàng là 2 ngày.
  • Lưu ý rằng thời gian từ lúc “sạch lâm sàng” đến khi “sạch xét nghiệm” khoảng 3-5 ngày đối với người bình thường. Vì vậy kháng sinh phải dùng tối thiểu là 5 – 7 ngày.
  • Nếu không đáp ứng phải đổi kháng sinh khác sau 2 ngày điều trị.

Chỉ phối hợp khi thật cần thiết:

  • Phối hợp kháng sinh chỉ đặt ra trong các tình huống:
  • Nhiễm nhiều loại vi khuẩn.
  •  Nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc nhiễm khuẩn có nguy cơ đe dọa tính mạng mà chưa có kết quả kháng sinh đồ.
  • Phối hợp để tăng hoạt lực kháng khuẩn của thuốc, ngăn chặn nguy cơ kháng thuốc khi sử dụng lâu dài.

Theo chuyên gia Y khoa Việt Nam ngày nay, do sự xuất hiện nhiều loại kháng sinh phổ rộng và các dạng chế phẩm phối hợp nên ngoài các tình huống trên, hạn chế tối đa việc phối hợp kháng sinh bởi vì việc phối hợp gây ra nhiều bất lợi:

thuoc-khang-sinh

  • Tạo tâm lý an tâm giả tạo, chủ quan.
  • Càng dùng nhiều kháng sinh, nguy cơ tương tác thuốc càng cao, tác dụng phụ càng nhiều.
  • Nguy cơ tương kỵ cao do trộn nhiều kháng sinh trong cùng bơm tiêm.
  • Phối hợp với tỷ lệ không chuẩn nên chưa chắc tạo ra hiệu lực hợp đồng.
  • Chi phí cao nhưng hiệu quả điều điều trị chưa chắc đã tăng.

Có thể bạn quan tâm

Vitamin B3: Liều dùng và tác dụng phụ cần biết

Vitamin B3: Liều dùng và tác dụng phụ cần biết5 (100%) 1 vote Vitamin B3, …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *